Đề nghị sửa Luật Căn cước công dân: Cấp thẻ CCCD cho trẻ dưới 14 tuổi

Do còn khó khăn, vướng mắc từ quy định của Luật Căn cước công dân, mới đây, Bộ Công an đã đề nghị xây dựng dự án Luật Căn cước công dân (sửa đổi).

Ngày 22/6, Bộ Công an đã đăng tải "Dự thảo Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Căn cước công dân (sửa đổi)"  để các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đóng góp ý kiến.

Theo dự thảo báo cáo tổng kết Luật Căn cước công dân của Bộ Công an, để triển khai thi hành Luật Căn cước công dân, Bộ Công an đã tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành 2 Nghị định, 1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền 14 Thông tư; phối hợp với Bộ Tài chính ban hành 1 Thông tư.

Qua 6 năm tổ chức triển khai thực hiện Luật Căn cước công dân đã cho thấy sự triển khai nghiêm túc, hiệu quả của các bộ, ngành, ủy ban nhân dân, công an các cấp. Bộ Công an đã giúp Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi việc triển khai, thực hiện Luật Căn cước công dân đạt nhiều kết quả. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tiến hành rộng rãi, hiệu quả, qua đó đã nâng cao nhận thức pháp luật về căn cước công dân của các cơ quan, tổ chức và của người dân.

Việc triển khai thực hiện Luật Căn cước công dân đã đảm bảo được yêu cầu quản lý Nhà nước về căn cước công dân trong tình hình mới, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội ở các cấp, hỗ trợ đắc lực trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự.

Với việc ứng dụng công nghệ thông tin, toàn bộ quy trình cấp, quản lý Căn cước công dân được thực hiện trên máy móc hiện đại nên thu nhận thông tin trở nên đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện hơn. Thẻ Căn cước công dân sản xuất theo công nghệ hiện đại, tuân thủ tiêu chuẩn ISO, ICAO... có độ bền cao, hình thức đẹp, dễ bảo quản, dễ sử dụng và có các yếu tố bảo an cao, rất khó để làm giả, tạo sự tin cậy, thân thiện đối với nhân dân.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Theo đó, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Căn cước công dân năm 2014 và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định cụ thể nêu trên, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Căn cước công dân năm 2014 để tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện.

Khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Căn cước công dân

Hiện nay, công dân có nhiều loại giấy tờ tùy thân khác nhau như thẻ Căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, giấy khai sinh, giấy phép lái xe, thẻ học sinh, sinh viên, thẻ hội viên, thẻ hành nghề... Việc có quá nhiều loại giấy tờ khác nhau được cơ quan có thẩm quyền cấp cho công dân gây ra khó khăn nhất định cho công dân trong lưu trữ, sử dụng, nhất là trong thực hiện các thủ tục hành chính, các tiện ích, dịch vụ công; không phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý Nhà nước, hoạt động xã hội đang ngày càng phát triển ở nước ta.

Trong khi đó, Luật Căn cước công dân không có các quy định về việc khai thác, sử dụng thông tin trên thẻ Căn cước công dân (bao gồm thông tin về căn cước công dân và các thông tin trên giấy tờ khác của công dân được tích hợp vào thẻ Căn cước công dân qua chíp điện tử và mã QR code) nên việc phát triển các ứng dụng, dịch vụ tiện ích của thẻ Căn cước công dân vào giao dịch dân sự, thực hiện chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính còn gặp nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ, thống nhất; nhiều đơn vị chưa tham gia triển khai vì đây không phải là nội dung được quy định trong luật.

Các quy định của Luật Căn cước công dân về việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu Căn cước công dân còn chưa được đầy đủ, bao quát, chủ yếu được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật; trong khi đó, đây là vấn đề lớn, tác động rộng rãi đến nhiều chủ thể khác nhau bao gồm các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức, doanh nghiệp được giao thực hiện một số dịch vụ công và tổ chức, cá nhân khác, nên cần được luật hóa.

Trong thực hiện chuyển đổi số, việc xác định, định danh công dân trên môi trường điện tử (công dân số) là rất cần thiết. Trong khi đó, Luật Căn cước công dân là văn bản quan trọng quy định về quản lý, định danh một công dân cụ thể nhưng hiện nay mới chỉ tập trung vào việc quản lý công dân qua Cơ sở dữ liệu căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, qua thẻ Căn cước công dân mà chưa có quy định về việc xác định, quản lý, định danh công dân trên môi trường điện tử nên gây khó khăn trong phát triển các tiện ích, triển khai dịch vụ công, quản lý các giao dịch điện tử quan trọng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản... chưa bảo đảm, bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của công dân trên môi trường điện tử.

Luật Căn cước công dân là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, quy định việc chuyển đổi từ cấp, sử dụng Chứng minh nhân dân sang cấp, sử dụng bằng thẻ Căn cước công dân; tuy nhiên, nhiều cơ quan, tổ chức đã yêu cầu công dân bắt buộc phải thực hiện các thủ tục để cập nhật, điều chỉnh lại thông tin trên giấy tờ, tài liệu đã cấp trước đây cho công dân (có thông tin về Chứng minh nhân dân) bằng thông tin về thẻ Căn cước công dân (như trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, bảo hiểm, tài chính, ngân hàng...) gây khó khăn, phiền hà cho công dân. Do vậy, cần bổ sung vào Luật Căn cước công dân quy định chuyển tiếp để bảo đảm việc sử dụng, thay thế từ Chứng minh nhân dân sang thẻ Căn cước công dân của công dân được thuận lợi hơn; hạn chế phát sinh các thủ tục khác đối với công dân.

Theo quy định tại Điều 9, Điều 15 Luật Căn cước công dân (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 37 Luật Cư trú năm 2020) thì thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân chỉ bao gồm một số nhóm thông tin; tuy nhiên, qua triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022, việc mở rộng, tích hợp thêm nhiều thông tin khác của công dân trong các cơ sở dữ liệu chuyên ngành vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân là rất cần thiết; trực tiếp phục vụ cho việc ứng dụng tiện ích của thẻ Căn cước công dân, định danh và xác thực điện tử, kết nối, chia sẻ, chứng thực dữ liệu công dân, phân tích, thiết lập bản đồ số dân cư. Do vậy, việc giới hạn các thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân theo quy định tại Điều 9, Điều 15 Luật Căn cước công dân nêu trên sẽ gây khó khăn nhất định khi triển khai Đề án, thực hiện chuyển đổi số quốc gia.

Theo quy định tại Điều 18 Luật Căn cước công dân thì thông tin trong thẻ Căn cước công dân bao gồm nhiều thông tin khác nhau về công dân; trong đó, có thông tin về ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú; tuy nhiên, trong thực tế khi triển khai cấp thẻ Căn cước công dân có nhiều trường hợp công dân không có thông tin về ngày, tháng sinh; không có nơi thường trú; không có địa chỉ quê quán rõ ràng (theo 03 cấp hành chính); có trường hợp công dân đã được cấp thẻ căn cước công dân nhưng lại xác định lại giới tính... nên dẫn đến nhiều trường hợp công dân phải thực hiện đăng ký lại, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch đầy đủ mới được cấp thẻ Căn cước công dân. Quy định này gây khó khăn cho công dân, nhất là với trường hợp người cao tuổi khi không có hoặc không còn giấy tờ chứng minh thông tin cá nhân do yếu tố lịch sử, chiến tranh dẫn đến không được cấp thẻ Căn cước công dân hoặc phải làm thêm rất nhiều thủ tục hộ tịch khác mới đủ điều kiện cấp thẻ Căn cước công dân.

Luật Căn cước công dân không quy định về cấp số định danh cá nhân cho trường hợp người không quốc tịch, người không có quốc tịch Việt Nam đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, người chưa xác định quốc tịch Việt Nam nhưng đã sinh sống ổn định, lâu dài ở Việt Nam, được đăng ký thường trú tại Việt Nam. Do nhiều yếu tố liên quan đến lịch sử, chiến tranh nên thực tế hiện nay còn rất nhiều trường hợp nêu trên cần phải có chính sách, quy định pháp luật để giải quyết, quản lý chặt chẽ những người này; bảo đảm cơ chế để họ có thể tham gia vào các giao dịch dân sự, dịch vụ công, nhất là các dịch vụ thiết yếu bảo đảm cuộc sống.

Luật Căn cước công dân chưa có quy định về việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân đối với trường hợp công dân có quyết định thôi quốc tịch, không được nhập trở lại quốc tịch Việt Nam...

Luật Căn cước công dân chưa có quy định về cấp lại thẻ Căn cước công dân theo hồ sơ đề nghị cấp thẻ gần nhất trên hệ thống cấp Căn cước công dân nên có trường hợp công dân vừa được cấp thẻ Căn cước công dân nhưng bị thất lạc, hư hỏng... đều phải trực tiếp đến cơ quan Công an để thực hiện cấp lại thẻ Căn cước công dân khác.

Hiện nay, các quy định về việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin của công dân đã được pháp luật chuyên ngành quy định chặt chẽ hơn, đòi hỏi phải thực hiện sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng tại Luật Căn cước công dân cho phù hợp như quy định về phòng chống các hành vi tấn công, xâm nhập, đánh cắp thông tin, phá hoại hoặc làm hư hỏng dữ liệu về dân cư.

Hướng đến mục tiêu phục vụ công dân số

Trên cơ sở rà soát Luật Căn cước công dân, Bộ Công an đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung Luật Căn cước công dân như sau:

Thứ nhất, bổ sung quy định về việc tích hợp một số thông tin khác của công dân (ngoài thông tin về căn cước công dân) vào thẻ Căn cước công dân và thay thế việc sử dụng một số loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp chứa thông tin đã được tích hợp.

Cụ thể, bổ sung quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục để thu thập, tích hợp thông tin; bổ sung quy định về hình thức tích hợp, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực hiện tích hợp thông tin; bổ sung quy định về loại thông tin được tích hợp (như thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, đăng ký phương tiện, giấy phép lái xe, thẻ cán bộ, công chức, viên chức, thẻ học sinh, sinh viên, thẻ hành nghề, văn bằng, chứng chỉ hoặc giấy tờ khác thuộc lĩnh vực quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ sau khi thống nhất với Bộ Công an); bổ sung quy định chuyển tiếp, lộ trình tích hợp thông tin; bổ sung quy định về sửa đổi, bổ sung một số Luật có liên quan quy định về việc tích hợp, sử dụng thẻ Căn cước công dân thay thế cho giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Thứ hai, chỉnh lý quy định về Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và bổ sung các nhóm thông tin vào trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân.

Theo đó bổ sung một số nhóm thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư gồm: Thông tin về số chứng minh nhân dân của công dân, ngày cấp, nơi cấp; người giám hộ, người được giám hộ; thông tin về diện chính sách; thông tin về Người không quốc tịch nhưng đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam (người gốc Việt Nam được sinh ra tại Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam được sinh ra tại nước ngoài nhưng đã trở về Việt Nam sinh sống liên tục từ 5 năm trở lên). Chỉnh lý Cơ sở dữ liệu căn cước công dân thành Cơ sở dữ liệu căn cước.

Bổ sung một số nhóm thông tin vào Cơ sở dữ liệu căn cước gồm: Thông tin sinh trắc học (mống mắt, ADN, giọng nói); thông tin về Người không quốc tịch nhưng đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam (người gốc Việt Nam được sinh ra tại Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam được sinh ra tại nước ngoài nhưng đã trở về Việt Nam sinh sống liên tục từ 5 năm trở lên); tài khoản định danh điện tử của công dân Việt Nam (có hoặc không có).

Thứ ba, bổ sung quy định cấp thẻ Căn cước công dân cho công dân là trẻ em dưới 14 tuổi; bổ sung quy định giải quyết vướng mắc trong cấp thẻ Căn cước công dân cho người không có nơi thường trú, không đầy đủ một số thông tin cá nhân khác như ngày, tháng sinh, quê quán (theo 3 cấp hành chính), có thông tin kê khai về dân tộc, tôn giáo khác không nằm trong danh mục quy định của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; bổ sung quy định về cấp giấy chứng nhận căn cước cho người không quốc tịch nhưng đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam (người gốc Việt Nam được sinh ra tại Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam được sinh ra tại nước ngoài nhưng đã trở về Việt Nam sinh sống liên tục từ 05 năm trở lên).

Thứ tư, hoàn thiện quy định về quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân; định danh điện tử; cấp, hủy số định danh của cá nhân; quy định về việc sử dụng thống nhất thẻ Căn cước công dân và việc hạn chế phát sinh thủ tục hành chính có liên quan, theo đó bổ sung quy định về: Định danh điện tử (căn cước điện tử) đối với cá nhân để thực hiện các thủ tục hành chính, dịch vụ hành chính công và giao dịch dân sự trên môi trường điện tử; Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp tài khoản định danh điện tử; Mức độ, giá trị của tài khoản định danh điện tử; Quản lý nhà nước về định danh điện tử.

Sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân cho đầy đủ, bao quát, phù hợp với thực tiễn triển khai dự án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân.

Sửa đổi, bổ sung quy định chuyển tiếp về thời hạn sử dụng thống nhất thẻ Căn cước công dân (gắn chíp) thay thế cho Chứng minh nhân dân và thẻ Căn cước công dân có mã vạch để tăng cường bảo mật, chống làm giả và phát huy hiệu quả khai thác, ứng dụng tiện ích mới của thẻ Căn cước công dân; đồng thời, bổ sung quy định hạn chế việc buộc thay đổi, điều chỉnh thông tin trên giấy tờ, tài liệu của công dân có sử dụng thông tin Chứng minh nhân dân bằng thông tin về thẻ Căn cước công dân qua ứng dụng mã QR code và chíp điện tử trên thẻ Căn cước công dân.

Bổ sung quy định về việc cấp, hủy số định danh cá nhân với trường hợp công dân có quyết định thôi quốc tịch, công dân được nhập trở lại quốc tịch Việt Nam.

Tuệ Minh

Link nội dung: https://diendanthuongmai.vn/de-nghi-sua-luat-can-cuoc-cong-dan-cap-the-cccd-cho-tre-duoi-14-tuoi-a52309.html